Hiển thị các bài đăng có nhãn thua phat lai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thua phat lai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Thứ Tư, 28/05/2014, 09:00

Người “mua nhà trên giấy” cần được bảo vệ

TT - Ngày 27-5, tại phiên thảo luận ở tổ của Quốc hội về dự án Luật nhà ở (sửa đổi) và Luật kinh doanh bất động sản (sửa đổi), nhiều đại biểu cho rằng các nội dung sửa đổi hai dự luật này chưa thấy rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh bất động sản.

>> Bất động sản “sống dở chết dở” là trách nhiệm nhà quản lý
>> Kinh doanh bất động sản phải có giấy phép hành nghề 
>> Phải giám sát được vốn đầu tư vào các dự án bất động sản

Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng cơ quan quản lý phải chịu trách nhiệm về khó khăn của thị trường bất động sản - Ảnh: Quang Định

Phát biểu tại phiên thảo luận, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền cho rằng dự thảo luật phải tính đến trách nhiệm của nhà quy hoạch, trách nhiệm của nhà điều chỉnh thị trường, trách nhiệm của nhà cấp phép…

Cơ quan quản lý không thể vô can

* Đại biểu CHU SƠN HÀ (Hà Nội):

Không dùng ngân sách xây nhà công vụ

Quỹ nhà công vụ để bố trí cho cán bộ khi luân chuyển công tác, nhận nhiệm vụ là cần thiết. Tuy nhiên, tôi đề nghị không bỏ ngân sách ra để xây nhà công vụ nữa, mà để cho doanh nghiệp xây dựng nhà công vụ cho thuê giá thương mại và Nhà nước chỉ bỏ phần tiền trợ giá thuê. Khi thôi nhiệm vụ thì cơ quan thông báo đến doanh nghiệp cho thuê để doanh nghiệp đòi lại nhà hoặc cơ quan cắt tiền trợ giá thuê nhà.

“Các cơ quan quản lý nhà nước phải chịu trách nhiệm về tình trạng sống dở chết dở hiện nay của thị trường bất động sản, nhưng trong báo cáo tổng kết thi hành luật thời gian qua không thấy nêu câu nào cả” - ông Quyền nói. Theo ông Quyền, việc cấp phép bừa bãi, cấp phép không có kế hoạch, không trên cơ sở cung cầu thị trường…dẫn đến tình trạng khó khăn hiện nay của thị trường bất động sản thì cơ quan cấp phép phải chịu trách nhiệm. “Trong cả hai dự án luật này chúng ta không nhìn thẳng vào sự thật là quản lý nhà nước trong lĩnh vực này rất yếu” - ông Quyền khẳng định.

Cũng theo ông Quyền, rất nhiều chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về bất động sản và nhà ở, đó là các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, nhà đầu tư, nhà bảo hành, nhà khai thác, bảo dưỡng, khách hàng… Nếu tranh chấp xảy ra có thể liên quan đến rất nhiều chủ thể, nên dự thảo Luật nhà ở (sửa đổi) và Luật kinh doanh bất động sản (sửa đổi) cần phân định rõ hơn trách nhiệm của từng đối tượng. Riêng với cơ quan quản lý nhà nước và nhà quản lý cụ thể, cần quy định rất chặt chẽ về quy hoạch, kế hoạch, sao cho khi nhà quản lý muốn thay đổi quy hoạch thì phải có tiêu chí rõ ràng. “Đường Trường Chinh, Hà Nội là một ví dụ, phải có tiêu chí xác định đường thẳng hoặc đường cong, chứ không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà quản lý được”- ông Quyền nói.

Liên quan đến dự thảo Luật nhà ở (sửa đổi), đại biểu Trần Du Lịch cho rằng hiến pháp quy định mọi người có quyền có nhà ở là một tiến bộ, nhưng có nên theo hướng tạo lập chính sách để mọi người sở hữu nhà ở không, hay tập trung chính sách của Nhà nước làm sao để mọi người có chỗ ở chứ không phải sở hữu nhà ở. Nếu đồng thuận với quan điểm này thì nhà ở xã hội phải tính khác, không thể một người lương không đủ sống nhưng cứ phải đeo đuổi mua nhà. Do đó, Nhà nước tạo điều kiện tạo lập quỹ nhà ở xã hội, nhà cho thuê giá rẻ cho các đối tượng, chưa cần khuyến khích sở hữu nhà ở.

Cũng theo ông Lịch, trách nhiệm phát triển nhà ở chủ yếu là chính quyền địa phương nên luật phải ràng buộc trách nhiệm này, đồng thời đặt vấn đề “chúng ta có mạnh dạn làm theo cách là nguồn thu từ xổ số kiến thiết chỉ để xây dựng nhà ở cho thuê, không được làm chuyện khác”. Đại biểu Huỳnh Thành Lập - trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM - cũng cho rằng mục tiêu chính của Luật nhà ở (sửa đổi) là tạo ra chính sách để xây thật nhiều nhà cho dân, đồng thời ủng hộ quan điểm chú trọng chính sách để mọi người có chỗ ở chứ không phải sở hữu nhà ở.

Kiểm soát tiền “mua nhà trên giấy”

Đại biểu Thân Đức Nam (Đà Nẵng) cho rằng các quy định về việc bán nhà ở hình thành trong tương lai vẫn chưa làm rõ được cơ chế đảm bảo nguồn vốn huy động ứng trước của người mua nhà sẽ được sử dụng đúng mục đích. Theo ông Nam, cần quy định rõ trong luật là tiền ứng trước mua nhà của người mua nhà phải được ký gửi tại một tổ chức tín dụng và chỉ được dùng để thanh toán cho công trình đó, giải ngân theo tiến độ của công trình có sự giám sát của ngân hàng và đại diện khách hàng. Ngoài ra, chỉ cho phép chủ đầu tư được huy động vốn của khách hàng tại thời điểm đã hoàn thành công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, dự án đã có quy hoạch chi tiết 1/500 (hoặc quy hoạch tổng mặt bằng) vì đây là lúc doanh nghiệp đã đầu tư khoản tiền lớn để giải phóng mặt bằng nên rất cần vốn để triển khai dự án.

Ông Nam cũng đề nghị quy định cụ thể về việc góp vốn và phân biệt rõ hai hình thức huy động vốn và mua bán nhà hình thành trong tương lai, giai đoạn nào thì bắt buộc phải ký hợp đồng mua bán nhà ở. “Với các dự án xây dựng nhà ở hay nhà ở đang xây dựng trong dự án sẽ được thế chấp tại các tổ chức tín dụng để vay vốn, thời hạn giải chấp sẽ phải thực hiện trước khi chủ đầu tư dự án hay các tổ chức, cá nhân tiến hành ký hợp đồng mua bán, cho thuê với khách mua nhà. Ngoài ra, cũng cần khống chế số lần chuyển nhượng và một số điều kiện ràng buộc khác, nếu không sẽ dễ dẫn đến tình trạng chuyển nhượng tràn lan, trốn thuế” - ông Nam phân tích.

Ông Phạm Huy Hùng (nguyên chủ tịch HĐQT Ngân hàng Vietinbank, đại biểu TP Hà Nội) cũng cảnh báo về tình trạng “tay không bắt giặc”. Chẳng hạn, có những chủ đầu tư ăn mặc đẹp, đi xe xịn, xách cặp rất oai nhưng nợ như chúa chổm, họ chỉ ép mấy cái cọc là bán, thu tiền nhiều lắm mà tiền đi đâu không biết. “Cho nên chỗ này cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát để hạn chế rủi ro”- ông Hùng nói. Theo ông Lịch, cần đặt dự thảo Luật kinh doanh bất động sản (sửa đổi) trong mối quan hệ với Luật doanh nghiệp (sửa đổi), tinh thần là mọi người có quyền kinh doanh những gì pháp luật không cấm, nhưng đây có phải là loại hình kinh doanh có điều kiện không, người VN định cư ở nước ngoài được kinh doanh bất động sản đến mức nào…

V.V.THÀNH - L.KIÊN - Q.THANH


Thừa phát lại và Văn phòng thừa phát lại

Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và một số công việc khác.

Thừa phát lại được làm những công việc sau :

1. Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự.

2. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

3. Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự.

4. Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

Khi thực hiện công việc về thi hành án dân sự, Thừa phát lại có quyền như Chấp hành viên – trừ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Cơ quan nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp và mọi cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Thừa phát lại theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối trái pháp luật yêu cầu của Thừa phát lại thì phải chịu trách nhiệm và bồi thường thiệt hại nếu có.

Chi phí thực hiện công việc của Thừa phát lại phải được ghi nhận trong hợp đồng giữa văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu ( một dạng hợp đồng dịch vụ).

Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại. Tên gọi văn phòng Thừa phát lại phải bao gồm cụm từ “Văn phòng Thừa phát lại” và phần tên riêng liền sau. Người đứng đầu Văn phòng Thừa phát lại phải là Thừa phát lại và là người đại diện theo pháp luật của văn phòng Thừa phát lại.

Văn phòng Thừa phát lại có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.

Thủ tục thực hiện công việc của Thừa phát lại

1. Tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và tòa án

Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật.

Văn phòng Thừa phát lại được quyền thỏa thuận để tống đạt các văn bản của Cơ quan thi hành án dân sự và Tòa án tại thành phố Hồ Chí Minh và ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tống đạt : Trưởng văn phòng Thừa phát lại có thể giao thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận việc tống đạt phải do chính Thừa phát lại thực hiện.

Thủ tục thực hiện việc thông báo về thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Thủ tục thực hiện việc tống đạt văn bản của Tòa án thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng.

Văn phòng Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm trước Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự về việc tống đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, đúng thời hạn của mình; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thưởng theo quy định.

2. Lập vi bằng

Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.

Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự trừ các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, đời tư, đạo đức xã hội và các trường hợp pháp luật cấm.

Về thủ tục lập vi bằng : Việc lập vi bằng phải do chính Thừa phát lại thực hiện. Thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại có thể giúp Thừa phát lại thực hiện việc lập vi bằng, nhưng Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm về vi bằng do mình thực hiện.

Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực. Trong trường hợp cần thiết Thừa phát lại có quyền mời người làm chứng chứng kiến việc lập vi bằng.

Vi bằng lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01 bản gửi Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại văn phòng Thừa phát lại theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng.

Nội dung chủ yếu của vi bằng có các nội dung chủ yếu sau:

a) Tên, địa chỉ văn phòng Thừa phát lại; họ, tên Thừa phát lại lập vi bằng;

b) Địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm lập vi bằng;

c) Người tham gia khác (nếu có);

d) Họ, tên, địa chỉ người yêu cầu lập vi bằng và nội dung yêu cầu lập vi bằng;

đ) Nội dung cụ thể của sự kiện, hành vi được ghi nhận;

e) Lời cam đoan của Thừa phát lại về tính trung thực và khách quan trong việc lập vi bằng;

g) Chữ ký của Thừa phát lại lập vi bằng và đóng dấu văn phòng Thừa phát lại, chữ ký của những người tham gia, chứng kiến (nếu có) và có thể có chữ ký của những người có hành vi bị lập vi bằng.

Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác.

Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án, là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Cá nhân, tổ chức muốn lập vi bằng phải thỏa thuận với Trưởng văn phòng Thừa phát lại về việc lập vi bằng, gồm các vấn đề chính như : Nội dung cần lập vi bằng; Chi phí lập vi bằng. .. Việc thỏa thuận lập vi bằng được lập thành văn bản.


3. Xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Thừa phát lại có quyền xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việc thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh. Khi thực hiện, Thừa phát lại có quyền xác minh ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản hay có điều kiện thi hành án ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục, việc xác minh điều kiện thi hành án được tiến hành bằng văn bản yêu cầu hoặc trực tiếp xác minh. Khi trực tiếp xác minh điều kiện thi hành án của đương sự, Thừa phát lại phải lập biên bản.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của Thừa phát lại và chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đã cung cấp.

Trong trường hợp cần thiết, Thừa phát lại có quyền mời cơ quan chuyên môn hoặc chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh. Các quy định khác về thủ tục xác minh điều kiện thi hành án thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án.

Người được thi hành án có quyền dùng kết quả xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại để yêu cầu thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền thi hành án vụ việc căn cứ kết quả xác minh để tổ chức thi hành án.

Trong trường hợp có căn cứ xác định kết quả xác minh không khách quan, chính xác thì Cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng Thừa phát lại khác có quyền không sử dụng kết quả đó nhưng phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.

Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thi hành án thỏa thuận với Trưởng văn phòng Thừa phát lại về việc xác minh điều kiện thi hành án. Văn bản thỏa thuận phải có các nội dung chủ yếu sau: Nội dung cần xác minh, trong đó nêu cụ thể yêu cầu xác minh về điều kiện tài sản hay các điều kiện khác của đương sự; Thời gian thực hiện việc xác minh; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Chi phí xác minh…

4. Trực tiếp thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự

Thừa phát lại được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Thừa phát lại có thể tổ chức thi hành các vụ việc ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt văn phòng Thừa phát lại nếu đương sự có tài sản, cư trú hay có các điều kiện khác ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt văn phòng Thừa phát lại.

Cùng một nội dung yêu cầu, cùng một thời điểm người yêu cầu chỉ có quyền làm đơn yêu cầu một văn phòng Thừa phát lại hoặc Cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án. Điều này có nghĩa là nếu Quí vị đã nhờ Văn phòng thừa phát lại trực tiếp thi hành án thì không còn quyền yêu cầu cơ quan thi hành án (của Nhà nước) thực hiện nữa.

Đương sự có quyền yêu cầu văn phòng Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án dân sự trong trường hợp vụ việc đó đang do Cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức thi hành. Thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Về thủ tục chung về thi hành án của Thừa phát lại : Thừa phát lại thực hiện các thủ tục về thi hành án theo quy định tại Nghị định 61/2009. Trường hợp trong Nghị định không quy định thì áp dụng theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Trưởng văn phòng Thừa phát lại ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký hợp đồng thỏa thuận thi hành án với người yêu cầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Quyết định thi hành án có các nội dung:

a) Tên, địa chỉ Văn phòng Thừa phát lại;

b) Ngày, tháng, năm ra văn bản;

c) Nội dung yêu cầu người phải thi hành án thi hành;

d) Thời hạn để người phải thi hành án tự nguyện thi hành.

Quyết định thi hành án phải được gửi cho Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tại nơi có văn phòng Thừa phát lại để phối hợp thi hành.

Thừa phát lại có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Luật Thi hành án dân sự. khi áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, Thừa phát lại có quyền và nghĩa vụ như Chấp hành viên.

Sau khi hết thời hạn tự nguyện đã được ấn định trong quyết định thi hành án, Thừa phát lại có quyền ra quyết địnháp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quy định tại Luật thi hành án dân sự.

Quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự có các nội dung chủ yếu sau:

a) Tên, địa chỉ văn phòng Thừa phát lại; họ, tên Thừa phát lại ra quyết định cưỡng chế thi hành án;

b) Căn cứ ra quyết định cưỡng chế;

c) Đối tượng và biện pháp cưỡng chế thi hành án áp dụng;

d) Thời gian, địa điểm áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.

Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Thừa phát lại có quyền, nghĩa vụ như Chấp hành viên và thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Người yêu cầu thi hành án và văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận về việc thi hành án. Văn bản thỏa thuận thể hiện dưới hình thức hợp đồng và có các nội dung chủ yếu như: Ngày yêu cầu thi hành án; Các khoản yêu cầu thi hành theo bản án, quyết định; Chi phí, phương thức thanh toán …

Nghị định 61/2009 có hiệu lực từ ngày 09 tháng 9 năm 2009.

Hoạt động thừa phát lại tuy thực chất đã có tại miền Nam trước năm 1975, nhưng nay có thể xem là một hoạt động còn rất mới mẻ tại Việt Nam, có ý nghĩa xã hội hóa thêm một phần trong lĩnh vực tư pháp, vốn đang ở tình trạng quá tải và kém hiệu quả.

Quí vị có thể click vào đây để xem :

• Nghị định 61/2009 : Qui định về tổ chức và hoạt động thừa phát lại (thí điểm tại TP.HCM)

Thừa phát lại là gì?

* Tôi đọc báo thấy từ thừa phát lại nhưng không hiểu rõ lắm, xin tòa soạn cho biết cụ thể?

Trả lời: Thừa phát lại (TPL) là một chức vụ có từ thời Pháp thuộc. Từ thừa phát lại (TPL) là từ Hán Việt; thừa có nghĩa là thừa ủy quyền, thừa lệnh (nguyên nghĩa là chuyển tải); phát là phát ra, đưa đến; lại là một viên chức thực hiện lệnh của quan.

Theo quy định tại Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24.7.2009 của Chính phủ, thì TPL hiện nay có các quyền: thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; lập vi bằng (lập các biên bản có giá trị pháp lý như: biên bản xác minh tài sản, biên bản hiện trạng nhà…); xác minh điều kiện thi hành án; trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án theo yêu cầu của đương sự (trừ các bản án, quyết định liên quan đến thu tiền, tài sản cho ngân sách nhà nước).

Trong các quyền của TPL, vi bằng là một công việc tương đối mới và gần giống với hoạt động công chứng, nhưng rộng hơn. Nếu công chứng chỉ chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch… bằng văn bản, thì lập vi bằng là việc TPL lập văn bản trong đó ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.


Văn phòng thừa phát lại Hà nội, ABC 0904958246

Van phong thua phat lai ha noi, ABC 0904958246

Sau hơn 4 tháng hoạt động, yêu cầu mà các văn phòng Thừa phát lại (TPL) nhận được nhiều nhất chính là việc lập vi bằng. Có thể nói, vi bằng là văn bản thuộc dạng “độc” của TPL.

Có giá trị chứng cứ và hơn thế nữa…

Trong các quyền của TPL theo Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ thì lập vi bằng là một công việc tương đối mới và đặc biệt rất được người dân trông đợi. Nghị định số 61/2009/NĐ-CP lần đầu tiên đã quy định TPL được quyền lập vi bằng nhằm tạo lập bổ sung nguồn chứng cứ bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi bị xâm phạm trong quan hệ dân sự.


Những giá trị của vi bằng do TPL lập: Giúp cơ quan Tòa án, các cơ quan hành chính nhà nước khác giải quyết các việc liên quan đến người dân được khách quan, chính xác, kịp thời, phù hợp pháp luật; Giúp các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình về dân sự, kinh tế, thương mại, hành chính, lao động; Hỗ trợ Luật sư những chứng cứ cần thiết để bảo vệ các quyền lợi của thân chủ; Hỗ trợ cơ quan công chứng khi công chứng các giao dịch.

TPL có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn TP.HCM theo yêu cầu của đương sự. Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác. Vi bằng không những có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án mà còn là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

LS Trần Công Ly Tao nhận định, đây là công việc vốn được người dân rất trông ngóng để có cơ sở giải quyết các tranh chấp phát sinh trong cuộc sống. Chẳng hạn, có 2 bà không ưa nhau, bà nọ chửi bà kia thậm tệ. Lời chửi được nạn nhân ghi âm để làm bằng chứng kiện đòi xin lỗi. Công phu vậy nhưng rồi nguyên đơn vẫn bị thua kiện vì không xác định người trong băng ghi âm… chửi ai.

“Ở trường hợp này, nếu có vi bằng của thừa phát lại ghi rõ địa điểm, ngày, tháng, năm; nội dung cụ thể của sự kiện, hành vi được ghi nhận; có chữ ký của những người tham gia, chứng kiến (nếu có) thì có lẽ người bị chửi không phải tức anh ách”, LS Trần Công Ly Tao phân tích.

Sẽ là thế mạnh

Sau hơn 4 tháng hoạt động, 5 văn phòng TPL đầu tiên được thí điểm tại TP.HCM đã có nhiều khách hàng tìm đến và yêu cầu phổ biến nhất chính là việc lập vi bằng. Người dân cho rằng, có không ít các thỏa thuận, giao dịch, sự kiện xảy ra nhưng không thuộc thẩm quyền chứng của cơ quan nào nên họ phải gõ cửa văn phòng TPL và được đáp ứng nhanh chóng, hiệu quả.

Cụ thể như họ muốn ghi nhận thỏa thuận giữa 2 bên mua bán nhà về chuyện giao nhận tiền, ghi nhận việc tự thỏa thuận tài sản sau ly hôn giữa 2 vợ chồng rằng người vợ sẽ trả cho chồng 500 triệu đồng để được sở hữu căn nhà mà vợ chồng đã cùng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, hay đơn giản chỉ là ghi nhận có việc xây dựng của nhà hàng xóm, có vệt nứt trên nhà mình…

Nhiều TPL khi được phóng viên một số báo đài hỏi đã tin tưởng trong tương lai, hoạt động lập vi bằng sẽ là thế mạnh của các văn phòng TPL do đây là lĩnh vực “độc quyền”, không cơ quan nào có thẩm quyền làm.

Mặc dù được lập theo yêu cầu của đương sự, nhưng Nghị định 61 cũng chỉ rõ rằng TPL không được lập vi bằng trong trường hợp vi phạm về bảo đảm an ninh, quốc phòng, đời tư, đạo đức xã hội và các trường hợp pháp luật cấm. Tuy nhiên, khái niệm “đời tư” lại là vấn đề chưa ngã ngũ. Ông Lê Mạnh Hùng – Trưởng Văn phòng TPL ở quận Bình Thạnh nêu ví dụ, bắt một ông đang ngoại tình thì có được lập vi bằng không, lập rồi có phải xâm phạm bí mật đời tư không.

“Ngay cả bí mật đời tư hiện cũng chưa rõ theo Bộ luật Dân sự. Chúng tôi vẫn phải làm theo kiểu cứ mò đi rồi sẽ tỏ vì vi bằng cũng mới được quy định nên không biết giới hạn được làm đến đâu”, ông Hùng cho biết. Và thực tế tính đến thời điểm này, chưa có văn phòng TPL nào lập vi bằng về việc ngoại tình bởi e ngại xâm phạm đời tư của người khác.

Van phong thua phat lai – Trường hợp xác định được người phải thi hành nghĩa vụ về thanh toán tiền đã chết có để lại tài sản thì những người thừa kế hoặc người quản lý di sản có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Bà Nguyễn Thị Hạnh (Hà Nội) là nguyên đơn trong một vụ kiện dân sự “đòi nợ”. Bản án phúc thẩm tuyên bị đơn phải trả tiền cho bà Hạnh. Bà Hạnh đã làm đơn yêu cầu thi hành án gửi Cơ quan thi hành án quận. Tuy nhiên, bản án chưa được thực hiện thì bị đơn chết.

Bà Hạnh hỏi: Trong trường hợp này bà có thu hồi được tiền nợ không?

Vấn đề bà Hạnh hỏi, đại diện Luật sư – Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 36 và Điều 44 Luật Thi hành án dân sự, thì Cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định thi hành trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án. Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.


Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh Chấp hành viên phải tiến hành xác minh.

Nếu xác định được người phải thi hành án đã chết có để lại tài sản, thì những người thừa kế, người quản lý di sản có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Điều 636 và khoản 1, khoản 2 Điều 637 Bộ luật Dân sự quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế”.

Tại khoản 2, Điều 7 Thông tư Liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Liên Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự hướng dẫn như sau:

“Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về thanh toán tiền đã chết mà có để lại tài sản thì cơ quan thi hành án có văn bản thông báo, ấn định thời hạn không quá 30 ngày để người thừa kế hoặc người quản lý di sản của người phải thi hành án thoả thuận thực hiện. Hết thời hạn này, nếu người thừa kế hoặc người quản lý di sản không thoả thuận được việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án, thì cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với tài sản để lại của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án, đồng thời ấn định thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo để những người liên quan đến tài sản thực hiện quyền khởi kiện. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật”.

Đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị Hạnh, nếu người phải thi hành án đã chết, khi chết có để lại tài sản thì những người thừa kế hoặc người quản lý di sản của người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án đã chết. Bà Hạnh cần thường xuyên liên hệ với Cơ quan thi hành án để biết tiến độ việc thực hiện thi hành án.

Thừa phát lạithua phat laithừa phát lại hà nộithua phat lai ha noivăn phòng thừa phát lạivan phong thua phat laivăn phòng thừa phát lại hà nộivan phong thua phat lai ha noithừa phát lại việt namthua phat lai viet namthi hành ánthi hanh an,…

Van phong thua phat lai Ha Noi (Nguồn: Baodientu.chinhphu.vn)


Thừa phát lại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và một số công việc khác. Đây là một ngành nghề trong xã hội. Thừa phát lại tương tự như chức mõ tòa (Người giữ việc báo tin và thi hành các quyết định của tòa án trong xã hội cũ, có khi trông nom cả việc bán các động sản của Nhà nước) và chấp hành viên.

Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại. Tên gọi văn phòng Thừa phát lại bao gồm cụm từ “Văn phòng Thừa phát lại” và phần tên riêng liền sau. Người đứng đầu Văn phòng Thừa phát lại là Thừa phát lại và là người đại diện theo pháp luật của văn phòng Thừa phát lại.


Điều kiện hành nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề Thừa phát lại tùy từng nước có khác nhau. Ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật thì người có đủ sáu điều kiện sau đây được làm thừa phát lại[1]:

Công việc[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa phát lại được làm một số công việc như:

  • Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự.
  • Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
  • Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự.
  • Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

Đã có văn phòng thừa phát lại tại Hà Nội, ABC 0904958246
Van phong thua phat lai ha noi, ABC 0904958246

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Có thừa phát lại, tranh chấp dễ giải quyết hơn

12/08/2009 05:31 (GMT + 7)
TT - Bạn đang cho thuê nhà (không quy định thời hạn) nhưng nay muốn lấy lại nhà để bán. Để tránh rắc rối, bạn phải báo cho bên thuê biết trước sáu tháng, nhưng bạn phải thực hiện việc thông báo đó như thế nào?

Nếu trước đây gặp những tình huống tương tự, nhiều người phải tự xoay xở đủ kiểu hoặc chạy tìm nhờ công chứng viên “cứu giúp” thì nay mọi người có thể yêu cầu các văn phòng thừa phát lại giải quyết. Đây là một tổ chức được thành lập thí điểm tại TP.HCM theo nghị định 61 ngày 24-7-2009 của Chính phủ (có hiệu lực ngày 9-9-2009). Theo đó, thừa phát lại sẽ làm những việc dưới đây:

Ai được làm thừa phát lại?

Người có đủ sáu điều kiện sau đây được làm thừa phát lại:

* Là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt;

* Không có tiền án;

* Có bằng cử nhân luật;

* Đã công tác trong ngành pháp luật trên năm năm hoặc từng là thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư; chấp hành viên, công chứng viên, điều tra viên từ trung cấp trở lên;

* Có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề thừa phát lại do Bộ Tư pháp tổ chức;

* Không kiêm nhiệm hành nghề công chứng, luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm thừa phát lại trên cơ sở đề nghị của giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM.

Tống đạt văn bản. Văn phòng thừa phát lại được quyền thỏa thuận để tống đạt các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự TP.HCM và các cơ quan thi hành án dân sự quận, huyện của thành phố; TAND TP.HCM và TAND quận, huyện tại thành phố. Việc tống đạt không phân biệt địa bàn (trong hay ngoài TP.HCM đều được).


Lâu nay, đối với giấy triệu tập xét xử, các thông báo về việc thi hành án..., do nhân sự ít nên các tòa án và cơ quan thi hành án thường phát hành chậm, hoặc cá biệt có trường hợp bị thất lạc. Với nhiệm vụ mới nêu trên, các thừa phát lại sẽ tạo thuận lợi cho người dân được thực hiện các quyền và nghĩa vụ luật định.

Lập vi bằng. Vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập để ghi nhận một sự kiện, một hành vi và có thể được dùng làm chứng cứ trong xét xử. Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn TP.HCM theo yêu cầu của đương sự. Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác.

Công việc này vốn được người dân rất trông ngóng để có cơ sở giải quyết các tranh chấp phát sinh trong cuộc sống. Bởi lẽ vi bằng có giá trị chứng cứ để tòa án xem xét khi giải quyết vụ án, đồng thời là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Có thể kể lại trường hợp có thật này để làm rõ vấn đề. Không ưa nhau, bà nọ chửi bà kia thậm tệ. Lời chửi được nạn nhân ghi âm để làm bằng chứng kiện đòi xin lỗi. Công phu vậy nhưng rồi nguyên đơn vẫn bị thua kiện vì không xác định người trong băng ghi âm... chửi ai. Ở trường hợp này, nếu có vi bằng của thừa phát lại ghi rõ địa điểm, ngày, tháng, năm; nội dung cụ thể của sự kiện, hành vi được ghi nhận; có chữ ký của những người tham gia, chứng kiến (nếu có) thì có lẽ người bị chửi không phải tức anh ách.

Xác minh điều kiện thi hành án. Thừa phát lại có quyền xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việc thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự tại TP.HCM. Khi thực hiện, thừa phát lại có quyền xác minh ngoài địa bàn TP.HCM trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản hay có điều kiện thi hành án ngoài địa bàn TP. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của thừa phát lại và chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đã cung cấp.

Trực tiếp tổ chức thi hành án. Đáng lưu ý, thừa phát lại còn được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của tòa án cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của tòa án cấp tỉnh; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của tòa án cấp tỉnh nơi thừa phát lại đặt văn phòng (hoặc ngoài địa bàn đặt văn phòng nếu đương sự có tài sản, cư trú hay có các điều kiện khác ngoài địa bàn).

Luật sư TRẦN CÔNG LY TAO

Đã có văn phòng thừa phát lại tại Hà nội

Thua phat lai tai ha noi

ABC 0904958246

BÁN TÒA VĂN PHÒNG GẤP

BÁN TÒA VĂN PHÒNG GẤP
TẠI TRUNG HÒA CẦU GIẤY HÀ NỘI

Mẹo trị HO miễn phí

Mẹo trị HO miễn phí
Cho BÉ và NGƯỜI GIÀ

Mua nhà không sổ đỏ?

BÍ MẬT TUYỆT VỜI ĐŨA TRE

BÍ MẬT TUYỆT VỜI ĐŨA TRE
KHỎE TẠI NHÀ

Categories

Bí kíp cho bà mẹ trẻ

Bí kíp cho bà mẹ trẻ
Nhiều sữa hơn cho bé

Mua nhà Hà Nội đẹp, rẻ, an toàn

Mua nhà Hà Nội đẹp, rẻ, an toàn
Có ngân hàng bảo đảm

Tham khảo Tử vi năm ĐINH DẬU 2017

Tham khảo Tử vi năm ĐINH DẬU 2017
Chút tâm linh cho ai cần năm ĐINH DẬU 2017

Tại sao khi uống BIA

Tại sao khi uống BIA
anh em hay nghĩ đến PHỤ NỮ ĐẸP?

Muốn làm mọi thứ thế nào, vào Google và gõ cái này là ra

Muốn làm mọi thứ thế nào, vào Google và gõ cái này là ra
làm thế nào, sao phải hỏi

Khi NĐT chung cư chọn VITC để giảm tới 20%

Khi NĐT chung cư chọn VITC để giảm tới 20%
Tiền trần sàn giảm tới 20%

1.5 tỷ nhà ở luôn Q.Đống Đa,nhà mặt đất, ngõ rộng

1.5 tỷ nhà ở luôn Q.Đống Đa,nhà mặt đất, ngõ rộng
30tr/m2, sổ đỏ, mới hoàn thiện, phố Trường Chinh

Đại hội quảng cáo lớn nhất năm 2013

Đại hội quảng cáo lớn nhất năm 2013
Đại hội quảng cáo châu Á lần thứ 28 sau hơn 50 năm được tổ chức lần đầu tại Việt Nam tháng 11/2013 >> click ảnh trên